Nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ thời Ngũ Đế, Tam Vương bên Trung Quốc. Trong tiếng Hán, chữ “nguyên” nghĩa là bắt đầu, thứ nhất, chữ “đán” nghĩa là một ngày hoặc buổi sáng. Ghép lại, “nguyên đán” nghĩa là ngày đầu tiên của năm. Tại Việt Nam, Tết nguyên đán có thể xem là ngày lễ hội cổ truyền lớn và quan trọng nhất trong năm, là dịp gia đình sum họp, vui vầy bên nhau.

Hoa mai biểu tượng cho Tết của người miền nam
Xin chữ đầu xuân
Đầu năm thường gắn với việc cầu xin những điềm lành, việc lành trong ao ước
của con người qua những cuộc hành hương về nơi linh thiêng nhất. Xin chữ là một
trong những hoạt động tâm linh ấy. Việc mang ý nghĩa này có nhiều nơi trên khắp
mọi miền đất nước.
Từ Bắc chí Nam, từ xuôi lên ngược, chẳng phân biệt giàu nghèo, sang hèn... ta
thường bắt gặp những gương mặt giống nhau ở sự thành tâm của người xin chữ trước
người cho chữ. Ngày xưa là chữ Nho, ngày nay vẫn là chữ Nho, lại có thêm cả chữ
Ta nữa. Các thầy đồ Hán học và Quốc ngữ học tha hồ thả hồn theo nét bút mà tặng
lại cho người xin cái tâm, cái tài của mình được gửi qua nét chữ và nội dung của
chữ theo ước nguyện của người xin.
Chưa có ai bán chữ, chỉ có người mua giấy để xin chữ. Người cho chữ vẫn có
lộc nhưng tinh tế hơn. Việc tưởng như không bình thường nhưng lại thể hiện được
nét thanh tao của công việc. Các thầy cô không phải bận bịu và hệ lụy vào chuyện
giá cả, tiền nong để đủ thanh thản và toàn tâm trong công việc cho chữ mang vẻ
thánh thiện này. Việc xin chữ đầu năm lâu nay đã có và ngày một thịnh hành, nó
đang trở thành phong tục đẹp của người Việt Nam mỗi độ xuân về Tết đến.
Không phải ai biết chữ cũng có thể cho chữ được. Người cho chữ phải hiểu chữ
và hiểu cả người xin chữ nữa. Gương mặt nết người. Nét chữ nết người. Chữ Ta đã
vậy, chữ Nho càng vậy. Người xin chữ thì cái sự xin kia là công việc của tâm
linh. Lòng có thanh đức mới sáng. Chữ nghĩa thầy cho là để gánh vác, để bươn
chải mà vươn lên cho thành đạt chứ không phải trò sổ xố cầu may. Có được như vậy
người cho chữ mới xứng hồn chữ, bằng không cũng chỉ như nước chảy bèo trôi, chữ
nghĩa trả thầy... Có được như vậy thì việc xin chữ và cho chữ mới thật sự ý
nghĩa. Và những người của muôn năm cũ sẽ lại về cùng con cháu mỗi mùa hoa mai,
hoa đào nở mang lộc chữ đến cho muôn nhà.
Bàn thờ gia tiên
Khi Tết đến Xuân về, khi tới kỳ giỗ ông bà, tổ tiên, dẫu đang sống tận nơi
đâu, các cháu con cũng nhớ sắp xếp thời gian và mọi điều kiện bồng bế nhau về đủ
mặt. Trước bàn thờ nghi lễ truyền thống, ăn mặc lễ phục chỉnh tề, cử chỉ nghiêm
trang, dọn lòng trong sạch hướng tâm linh cúng lạy, nguyện sống xứng đáng với
''bề trên''.
Sự tín ngưỡng ấy đã góp phần tạo thêm giá trị nhân văn, đạo đức truyền thống,
bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc. Sự thờ cúng tổ tiên mách bảo con cháu giữ
gìn đạo lý, nề nếp gia phong, sống tình nghĩa thủy chung, tu thân, hướng thiện.
Thực tâm cầu thị, yêu đồng loại, sâu nặng cội nguồn... Theo các nhà nghiên cứu,
có ba kiểu bàn thờ khác nhau. Đầu tiên là kiểu bàn thờ ông bà ta đưa từ miền
Trung vào Nam Bộ, có 4 chân, bàn nghi ở giữa, có lư nhang, bộ chưng đèn.

Hoa sen tượng trưng cho sự thanh khiết, cao quí
Phía trong bàn thờ đặt giường thờ. Phỏng định kiểu bàn thờ này xuất hiện ở
đất phương Nam vào năm 1890, khi chưa có bóng dáng đô thị hóa và tiếp cận văn
hóa phương Tây. Vào năm 1910, đổi lại kiểu bàn thờ nhỏ gọn hơn, có thợ từ Bắc
vào chạm trổ cẩn xà cừ hoa văn chữ Hán. Cạnh bàn thờ có tranh vẽ trên kiếng nói
về ước vọng sâu xa của con nguời muốn vươn tới chân, thiện, mỹ và cuộc sống ấm
no, thịnh vượng, thái bình...
Khi có sự du nhập nền văn hóa phương Tây và kinh tế thị trường, ở những nơi
thị tứ, đường nét đô thị hóa rõ dần, đèn sáp đã thay bằng đèn dầu hỏa, không
gian thờ phụng thu hẹp hơn, thường chỉ 2,3 m2. Bàn thờ, giường thờ đã thay bằng
tủ thờ cách tân theo kiểu tủ người Pháp, nhưng tuyệt nhiên cửa tủ trước không
bao giờ mở; chỉ mở cửa hông hai bên để giữ gìn ý tứ và cử chỉ tôn kính tổ
tiên.
Bên trong tủ thờ chỉ đặt để ngăn nắp những nhang đèn, hoa quả, bình tách,
chai rượu quý, các giấy tờ hành chánh, hộ tịch, gia phả, di cảo điền thổ...
Phỏng định những kiểu bàn thờ này xuất hiện ở đây vào khoảng năm 1920, như vậy
chỉ trong vòng 30 năm, từ 1890 - 1920, ở Nam Bộ đã có ba kiểu bàn thờ tổ tiên
khác nhau. Từ bàn thờ 4 chân kê liền với giường thờ phía trong, có bàn nghi ở
giữa, chiếm nhiều diện tích trong nhà, đã dần dần điều chỉnh đến đơn giản hóa,
thu gọn vào cái tủ thờ mà ta thường thấy.

Ngày nay, nhà cửa nơi ăn chốn ở được kiến trúc xây dựng khang trang rộng lớn
hơn, con cháu dành hẳn một phòng tĩnh lặng để thờ cúng tổ tiên. Thiết kế đúc
vĩnh cửu một cái bàn thờ cũng bằng bê tông. Lát gạch men cao cấp bóng sạch. Còn
có đặt để thêm mặt kính dày năm, bảy ly. Bề ngang bàn thờ dài đến ba thước, có
khi hơn, đụng hai đầu vách tả hữu. Rộng đến cả thước sát vách tường. Bàn thờ mặt
nhìn ra tiền diện có nhiều cửa hướng đất trời thiêng liêng trong sáng, dưới đáy
bàn thờ là ngăn hộc tủ đựng lễ vật và tài sản quý báu.
Trang trí, thiết kế rất tinh tế, hoa đăng màu sắc hài hòa giữa tân và cựu.
Tết đến Xuân về còn lấp lánh hàng chữ “MỪNG NĂM MỚI''. Có đẳng cấp, nhiều ngăn,
nhiều tầng. Thờ phụng người quá cố từ nhỏ - tầng thấp đến các bậc ông sơ, ông cố
ở tầng cao. Dọn cúng mâm cao cỗ đầy. Tề tựu đông đủ. Với các món nấu nướng gia
truyền, dâng cúng là những sản phẩm nông nghiệp.
Hoa tươi, rượu nếp gạo nấu tinh khiết. Bánh trái, ngũ cốc, thịt gà, heo...
Nấu nướng thơm ngon đặt lên cúng trên bàn thờ. Để ông bà yên lòng nhìn thấy các
cháu con biết giữ gìn truyền thống ''dĩ nông vi bản'' và đem sức lao động cần cù
làm ra thành quả từ lòng đất quê hương của ông cha để lại. Thời nay người Việt
còn dâng cúng nhiều loại rượu bia, bánh hộp... nhiều loại thực phẩm chất lượng
thời công nghiệp chế biến cao sang tân tiến.
Trên bàn thờ gia tiên đặt nơi cao quý tôn kính nhất trong nhà, dân ta lúc nào
cũng trang hoàng, gìn giữ lau chùi thật tươm tất bóng sạch. Hương đèn quanh năm.
Đêm ngày gắn liền với tâm linh và ánh mắt. Ấy chính là nét văn hóa truyền thống
góp phần bảo tồn di sản tinh thần và đạo đức trong đời sống con người lưu truyền
tự ngàn xưa.
Cúng giao thừa
Dân tộc nào cũng coi phút giao thừa là thiêng liêng. Các cụ ta quan niệm: Mỗi
năm Thiên đình lại thay toàn bộ quan quân trông nom công việc dưới hạ giới, đứng
đầu là một ngài có vị trí như quan toàn quyền.
Năm nào quan toàn quyền giỏi giang anh minh, liêm khiết thì hạ giới được nhờ
như: Được mùa, ít thiên tai, không có chiến tranh, bệnh tật... Trái lại, gặp
phải ông lười biếng kém cỏi, tham lam... thì hạ giới chịu mọi thứ khổ. Và các cụ
hình dung phút giao thừa là lúc bàn giao, các quan quân quản hạ giới hết hạn kéo
về trời và quan quân mới được cử thì ào ạt kéo xuống hạ giới tiếp quản thiên
hạ.
Các cụ cũng hình dung phút ấy ngang trời quân đi, quân về đầy không trung tấp
nập, vội vã (nhưng mắt trần ta không nhìn thấy được), thậm chí có quan, quân còn
chưa kịp ăn uống gì. Nhưng phút ấy, các gia đình đưa xôi gà, bánh trái, hoa quả,
toàn đồ ăn nguội ra ngoài trời cúng, với lòng thành tiễn đưa người nhà trời đã
cai quản mình năm cũ và đón người nhà trời mới xuống làm nhiệm vụ cai quản hạ
giới năm tới.
Vì việc bàn giao, tiếp quản công việc hết sức khẩn trương nên các vị không
thể vào trong nhà khề khà mâm bát mà chỉ có thể dừng vài giây ăn vội vàng hoặc
mang theo, thậm chí chỉ chứng kiến lòng thành của chủ nhà. Ví cứ tưởng tượng
thêm thắt các hình ảnh nhà trời theo mình như vậy nên nhiều nhà có của đua nhau
cúng giao thừa rất to và nghĩ cách làm mâm cúng giao thừa nổi lên bởi những của
ngon vật lạ, trang trí cầu kỳ để các quan chú ý, quan tâm đến chủ hảo tâm mà phù
hộ cho họ với những ưu ái đặc biệt.
Biết thấu tâm lý của người giàu, các cụ ta đã có nhiều câu chuyện răn đời để
người ta hiểu rằng: Các quan mặc dầu phút bàn giao bận rộn khẩn trương nhưng vì
là... người nhà trời nên có tài thấu hiểu ngay "Ruột gan" của gia chủ. Nếu có ý
cầu lợi, mua chuộc, đút lót, các vị chỉ nhìn dấu hiệu ở khói hương, lửa đèn là
biết ngay, và lập tức các vị dông thẳng, không thèm ngó ngàng gì đến vật cúng
giao thừa của các nhà cầu lợi ấy.
Trái lại, những nhà chân chất, thật thà, sống bằng lao động, ăn ở tử tế thì
có khi chỉ cần chén rượu, nén hương (như thổ công đánh tín hiệu qua hương đèn),
các vị có chức trách biết ngay mà vui vẻ thưởng thức, dốc lòng phù hộ.
Xuất hành và hái lộc
Đầu năm mới, người Việt còn có tục xuất hành. Xuất hành là đi ra khỏi nhà
trong ngày đầu năm để đi tìm cái may mắn cho mình và gia đình. Trước khi xuất
hành, người ta phải chọn ngày, giờ và các phương hướng tốt để mong gặp được các
quý thần, tài thần... Thường thường, người ta theo các hướng tốt, xuất hành đi
lễ chùa, đền hoặc đi chúc Tết các bậc huynh trưởng, thân quyến hay bằng hữu. Đối
với nhà nông ngày xưa, đầu năm mới xuất hành còn để chiêm nghiệm thời tiết.

Ngày Tết trên đường phố Sài Gòn
Vào những ngày đầu năm, khi mặt trời mọc người ta đi ra khỏi nhà xem chiều
gió thổi, người ta có thể đoán được năm mới hên hay xui, chẳng hạn:
- Gió Nam: chỉ đại hạn
- Gió Tây: chỉ cướp bóc loạn lạc
- Gió Tây Nam: chỉ bệnh dịch tả
- Gió Bắc: chỉ được mùa vừa phải
- Gió Tây Bắc: chỉ được mùa đỗ, đậu
- Gió Đông: chỉ có lụt lớn....
Nếu xuất hành ra chùa hay đền, sau khi lễ bái, người mình còn có tục bẻ lấy
một "cành lộc" để mang về nhà lấy may, lấy phước. Đó là tục "hái lộc". Cành lộc
là một cành đa nhỏ hay cành đề, cành si, cây xương rồng... là những loại cây
quanh năm tươi tốt và nẩy lộc. Tục hái lộc ở các nơi đền, chùa ngụ ý xin hưởng
chút lộc của Thần, Phật ban cho nhân năm mới. Cành lộc này thường đem về cắm ở
bàn thờ Tổ Tiên.
Mâm ngũ quả
Trong ngày Tết không thể thiếu mâm ngũ quả trên bàn thờ tổ tiên. Năm loại quả
này phải đại diện cho ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Thông thường người ta
chọn yếu tố màu sắc đặc trưng của ngũ hành: màu trắng là màu của Kim, màu xanh
lá cây là màu của Mộc, màu xanh lam hay đen là màu của Thủy, màu đỏ là màu của
Hỏa, màu vàng là màu của Thổ.

Ngoài ra, tên của loại trái cây mang một ý nghĩa rất quan trọng, gắn liền với
sự sung túc, sức khỏe và may mắn như : Mãng Cầu, Dừa, Đu Đủ, Xoài, Đào Tiên,
Táo, Dưa Hấu... Mâm ngũ quả biểu tượng cho lòng biết ơn ông bà, tổ tiên của mỗi
người Việt, cũng như lòng mong ước một năm mới an khang, nhiều may mắn, tốt
đẹp.
Giao thừa
Lẽ trời đất có khởi thuỷ phải có tận cùng, một năm có bắt đầu ắt phải có kết
thúc, bắt đầu vào lúc giao thừa, cũng lại kết thúc vào lúc giao thừa.
Giao thừa là gì? Theo từ điển Hán Việt của Ðào Duy Anh nghĩa là cũ giao lại,
mới đón lấy. Chính vì ý nghĩa ấy, nên hàng năm vào lúc giao tiếp giữa hai năm
cũ, mới này, có lễ trừ tịch.
Lễ Trừ tịch :
Trừ tịch là giờ phút cuối cùng của năm cũ sắp bắt đầu qua năm mới. Vào lúc
này, dân chúng Việt nam theo cổ lệ có làm lễ Trừ tịch. Ý nghĩa của lê này là đem
bỏ hết đi những điều xấu của năm cũ sắp qua để đón những điều tốt đẹp của năm
mới sắp đến. Lễ trừ tịch còn là lễ để " khu trừ ma quỷ", do đó có từ "trừ tịch".
Lễ trừ tịch cử hành vào lúc giao thừa nên còn mang tên là lễ giao thừa
Tục lệ trong đêm trừ tịch
Sau khi làm lễ giao thừa, các cụ ta có những tục lệ riêng mà cho đến nay, từ
thôn quê đến thành thị, vẫn còn nhiều người tôn trọng thực hiện. Lễ chùa, đình,
đền: Lễ giao thừa ở nhà xong, người ta kéo nhau đi lễ các đình, chùa, miếu, điện
để cầu phúc, cầu may, để xin Phật, Thần phù hộ độ trì cho bản thân và gia đình
và nhân dịp này người ta thường xin quẻ thẻ đầu năm.
Kén hướng xuất hành: Khi đi lễ, người ta kén giờ và hướng
xuất hành, đi đúng hướng đúng giờ để gặp may mắn quanh năm.
Hái lộc: Ði lễ đình, chùa, miếu, điện xong người ta có tục
hái trước cửa đình, cửa đền một cành cây gọi là cành lộc mang về ngụ ý là "lấy
lộc" của Trời đất Thần Phật ban cho. Cành lộc này được mang về cắm trước bàn thờ
cho đến khi tàn khô.
Hương lộc: Có nhiều người thay vì hái cành lộc lại xin lộc
tại các đình, đền, chùa, miếu bằng cách đốt một nắm hương, đứng khấn vái trước
bàn thờ, rồi mang hương đó về cắm và bình hương bàn thờ nhà mình.Ngọn lửa tượng
trưng cho sự phát đạt được lấy từ nơi thờ tự về tức là xin Phật ,Thánh phù hộ
cho được phát đạt quanh năm.
Xông nhà: Thường người ta kén một người "dễ vía" trong gia
đình ra đi từ trước giờ trừ tịch, rồi sau lễ trừ tịch thì xin hương lộc hoặc hái
cành lộc ở đình chùa mang về. Lúc trở về đã sang năm mới và ngưòi này sẽ tự
"xông nhà" cho gia đình mình, mang sự tốt đẹp quanh năm về cho gia đình. Nếu
không có người nhà dễ vía người ta phải nhờ người khác tốt vía để sớm ngày mồng
một đến xông nhà trước khi có khách tới chúc tết, để người này đem lại sự may
mắn dễ dãi.
Tảo mộ
Phong tục thuần tuý Việt Nam trong dịp Tết là tục tảo mộ cuối năm hay vào
những ngày đầu năm mới. Vào những ngày cuối năm hay đầu năm, các gia đình thường
tụ họp ở nghĩa địa để sửa sang, quét dọn phần của tổ tiên và những thân quyến
quá cố. Họ đem hương hoa lễ vật bày ở mộ và "cung thỉnh" hương hồn những người
quá vãng về nhà ăn Tết cùng con cháu...
Tục tảo mộ Tết này, trước các thời kỳ chiến tranh vẫn còn được duy trì nhiều
nơi ở miền Bắc và nhiều tỉnh ở miền Trung như ở Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng
Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa v.v... Theo sách "đại Nam thống Chí", nhiều
nơi ở miền Bắc nhất là quanh vùng Hà Nội còn có tục cả họ (nghĩa là tất cả mọi
người trong cùng một gia tộc) tụ họp nhau lại để cùng đi tảo mộ tổ tiên và thân
quyến quá cố, vào những ngày trước tết... Có nơi thì đi thăm mộ vào những ngày
đầu năm. Tục tảo mộ Tết này được gọi là Lễ Tổ Lạp.

Sông nước miền Tây

Cả nhà bán hoa ngày Tết
